Giới không trộm cắp, dịch sát nghĩa là giới "không lấy của không được cho", là điều thứ hai trong năm giới: người giữ giới không cố ý lấy hay chiếm giữ thứ thuộc về người khác khi người ấy không đồng ý trao. Phạm vi của giới rộng hơn chữ "trộm" trong tiếng Việt: lừa đảo, cân thiếu, ăn bớt, quỵt nợ, giữ của rơi đều nằm trong đó.
Bài này giải thích cách gọi tên của giới, các yếu tố cấu thành theo luận giải, những dạng "lấy" khó nhận ra trong đời sống hiện đại, mặt tích cực của giới là bố thí và rộng rãi, và vì sao kinh điển coi giới này là nền của lòng tin trong xã hội. Muốn áp dụng cho hoàn cảnh riêng, như việc làm ăn của gia đình bạn, nên hỏi chư tăng, ni.
Vì sao gọi là "lấy của không cho" chứ không chỉ là "trộm"
Chữ Pali của giới này là adinnādāna, ghép từ "cái không được cho" và "sự lấy". Cách đặt tên ấy chỉ ra ranh giới rất rõ: thứ gì người ta không tự nguyện trao thì mình không lấy. Từ "trộm" trong tiếng Việt thường gợi hình ảnh lén lút, còn "lấy của không cho" bao cả những cách lấy công khai, hợp pháp bề ngoài mà vẫn không có sự đồng ý thật.
Ví dụ, một người bán hàng cân thiếu vài lạng, khách trả đủ tiền nhưng không đồng ý mua thiếu. Một người vay rồi cố tình không trả. Một người nhận giữ đồ hộ rồi chối. Không ai trong số đó đột nhập nhà ai, nhưng tất cả đều đang lấy thứ không được trao.
Ở chiều ngược lại, thứ được trao tự nguyện thì nhận là đúng, kể cả quà biếu, tiền công, lợi nhuận buôn bán ngay thẳng. Giới không đòi người giữ giới phải từ chối của cải. Kinh điển nhiều lần nói đến những cư sĩ giàu có mà vẫn giữ giới trọn vẹn, vì của cải của họ đến từ con đường chính đáng.
Tên gọi này cũng giúp người giữ giới tự hỏi một câu đơn giản trước mỗi việc: người có quyền với thứ này có thật sự đồng ý cho mình lấy không?
Năm yếu tố để thành phạm giới theo luận giải
Tương tự giới sát, các luận giải Nam truyền phân tích giới trộm thành năm yếu tố. Đủ năm yếu tố thì thành phạm giới trọn vẹn:
- Vật có chủ: thứ đó thuộc về một người hay một tập thể, không phải đồ bỏ.
- Biết là vật có chủ: người lấy nhận ra thứ ấy không phải của mình.
- Có ý muốn lấy: tác ý chiếm làm của mình hoặc làm cho chủ mất quyền với vật.
- Có hành động lấy: tự làm, sai người làm, hoặc dùng mưu kế.
- Lấy được: vật đã rời khỏi quyền của chủ do hành động đó.
Yếu tố thứ hai và thứ ba giải thích vì sao lấy nhầm áo của người khác ở phòng thay đồ, khi phát hiện liền trả lại, không phải là trộm cắp. Còn nếu biết là nhầm mà vẫn giữ, tính chất đã khác.
Luận giải cũng nói mức nặng nhẹ tuỳ giá trị vật, tuỳ người bị lấy và tuỳ phương cách: lấy của người nghèo khó, lấy của chung một cộng đồng, lấy bằng bạo lực được coi là nặng hơn. Những phân tích này giúp người học hiểu cấu trúc của giới, không dùng để định giá lỗi của ai.
Những dạng "lấy của không cho" khó nhận ra
Ít ai tự thấy mình là kẻ trộm, nên phần khó của giới này nằm ở những dạng lấy được che phủ bằng thói quen hoặc bằng những lý lẽ quen tai. Một số dạng thường được các vị thầy nhắc tới khi giảng giới thứ hai:
- Gian lận đo lường: cân, đong, đo thiếu; pha trộn hàng kém vào hàng tốt rồi bán với giá hàng tốt.
- Không trả nợ khi có khả năng: kinh Thiện Sanh xếp tự do khỏi nợ nần vào niềm vui của người tại gia; cố tình quỵt nợ là lấy của người cho vay.
- Giữ của rơi: nhặt được đồ có chủ mà không tìm cách trả, dù mình không chủ động lấy.
- Chiếm dụng của chung: tiền quỹ lớp, quỹ họ, quỹ từ thiện, tài sản công dùng vào việc riêng.
- Lấy bằng lời nói: lừa đảo, hứa hẹn không có thật để người khác đưa tiền, bán hàng với thông tin sai.
- Không trả công xứng đáng: khất lương người làm, ép giá người yếu thế khi biết họ không có lựa chọn.
- Dùng sản phẩm trí tuệ không phép: nhiều vị giảng xếp việc dùng phần mềm, sách, nhạc không có bản quyền vào phạm vi giới này; cũng có quan điểm rộng hẹp khác nhau, nhưng tôn trọng quyền của người làm ra sản phẩm là hướng an toàn.
Danh sách này không để mỗi người tự kết tội mình. Nhiều việc trên còn là vi phạm pháp luật, và khi đó làm đúng nghĩa vụ pháp lý là phần tối thiểu. Với những việc nhỏ đã thành thói quen, cách nhiều người chọn là sửa từng việc một.
Mặt tích cực: rộng rãi và bố thí
Từ không lấy đến biết cho. Kinh điển thường mô tả người giữ giới thứ hai là người chỉ nhận cái được cho, chỉ mong cái được cho, sống với tâm trong sạch không trộm cướp. Bước tiếp theo tự nhiên là biết chia sẻ, vì người đã thôi muốn chiếm thì dễ mở tay hơn.
Ba loại bố thí. Giáo lý Bắc truyền hay nói đến tài thí (cho của cải), pháp thí (chia sẻ hiểu biết lành) và vô uý thí (đem lại sự an tâm, không sợ hãi). Người không có nhiều tiền vẫn có thể bố thí theo hai cách sau.
Cho trong sức mình. Bố thí không có nghĩa dốc hết của cải hay cúng dường vượt khả năng. Kinh Thiện Sanh khuyên người tại gia biết sắp xếp thu nhập, lo cho gia đình, dành phần cho việc làm ăn và phần dự phòng. Cho là để tâm nhẹ đi, không để gia đình khốn đốn.
Cho không cần được biết đến. Nhiều vị thầy nhắc rằng tâm khi cho quan trọng hơn số lượng. Cho để được khen, để đổi lấy điều gì đó, khác với cho vì muốn người kia bớt khổ.
Vì sao giới này là nền của lòng tin trong xã hội
Một xã hội mà ai cũng phải giữ chặt tài sản, phải cân lại mọi món hàng, phải nghi ngờ mọi lời hứa thì tốn rất nhiều sức cho việc đề phòng. Giới thứ hai, nếu được nhiều người giữ, làm giảm cái giá phải trả cho sự nghi ngờ đó. Người buôn bán ngay thẳng có khách quay lại; người vay trả sòng phẳng được giúp khi cần.
Kinh Trường Bộ có bài kinh kể chuyện một vị vua được khuyên rằng dùng hình phạt không dẹp hết được trộm cướp, mà nên giúp nông dân có giống, người buôn bán có vốn, người làm công có lương; đại ý cho thấy nghèo đói là một nguyên nhân của trộm cắp. Ở đây chỉ nêu đại ý, không trích nguyên văn. Điểm đáng chú ý là giáo lý nhìn trộm cắp cả như vấn đề của cá nhân lẫn của hoàn cảnh xã hội.
Vì thế người giữ giới thứ hai không chỉ lo phần mình không lấy, mà còn có thể góp phần làm cho người khác không bị đẩy vào đường cùng: trả công đúng, giúp người khó khăn, không ép giá. Đây là cách hiểu rộng, nhiều vị thầy hay nói tới.
Đồng thời, hiểu nguyên nhân không có nghĩa là bào chữa cho việc trộm cắp. Người bị lấy mất tài sản cần được bảo vệ bằng pháp luật, và người giữ giới không vì lòng thương mà che giấu hành vi phạm pháp gây hại cho người khác.
Những câu hỏi khó về giới thứ hai
Có những tình huống không trắng đen rõ ràng. Một người nhân viên được công ty cho phép dùng điện thoại công việc vào việc riêng ở mức hợp lý: đó là của được cho, không phạm giới. Nhưng dùng vượt quá mức được cho phép thì đã sang vùng xám. Cách tự kiểm đơn giản là nếu người có quyền nhìn thấy, họ có thấy ổn không.
Nhặt được tiền ngoài đường không rõ chủ là một câu hỏi khác. Nhiều người chọn nộp cho cơ quan chức năng hoặc nơi tiếp nhận đồ thất lạc, vì đó là cách có khả năng nhất để đồ về đúng người. Pháp luật Việt Nam cũng có quy định về việc xử lý tài sản do người khác đánh rơi, nên làm theo quy định hiện hành.
Một câu hỏi khác là đồ cúng ở chùa. Theo nếp chung, tài sản cúng dường cho Tam bảo là của chung của chùa và Tăng đoàn, việc sử dụng do nhà chùa quyết định. Người ngoài tuỳ tiện lấy đồ cúng mang về là lấy của không cho, dù món đồ nhỏ.
Cuối cùng, người đã lỡ lấy của người khác thì làm gì? Hướng chung là trả lại hoặc bồi hoàn khi còn có thể, xin lỗi nếu phù hợp, và phát nguyện không tái phạm. Nếu không còn cách trả, nhiều vị thầy khuyên làm việc lành tương xứng. Những trường hợp liên quan đến pháp luật thì nên tìm tư vấn pháp lý.
Gốc của giới thứ hai nằm ở ý muốn chiếm hữu
Giới chỉ ngăn hành động, nhưng giáo lý nhìn sâu hơn vào chỗ hành động bắt đầu. Trước khi tay lấy, tâm đã muốn có. Trong Thập thiện, ý nghiệp đầu tiên là tham lam, tức mong chiếm đoạt thứ của người khác. Giới thứ hai ngăn bàn tay, còn việc tu tập thật sự là nhìn ra cái muốn ấy khi nó vừa khởi lên.
Điều này giải thích vì sao có người không bao giờ lấy của ai một đồng nhưng vẫn khổ vì so bì, ghen tị với tài sản của người khác. Họ giữ giới tốt nhưng chưa nhẹ lòng. Ngược lại, người tập nhận ra ý muốn chiếm hữu thường thấy giữ giới dễ hơn, vì không còn phải gồng mình chống lại một cơn thèm muốn lớn.
Các vị thầy hay khuyên một cách tập đơn giản: khi thấy mình muốn một thứ không thuộc về mình, dừng lại một nhịp, gọi tên cảm giác ấy, rồi tự hỏi mình thật sự cần gì. Nhiều khi câu trả lời là mình cần được an toàn, được công nhận, chứ không phải cần món đồ đó.
Cách nhìn này cũng làm giới thứ hai bớt tính răn đe. Người giữ giới không chỉ tránh điều sai mà dần dần thấy mình đủ đầy hơn với những gì đang có, và đó là phần quà mà giới trao lại cho chính người giữ.
Câu hỏi thường gặp
Dùng phần mềm không bản quyền có phạm giới không?
Nhiều vị giảng xếp việc này vào phạm vi lấy của không cho vì người làm ra sản phẩm không đồng ý trao miễn phí. Cũng có người phân biệt mức độ tuỳ hoàn cảnh. Hướng an toàn là dùng bản hợp lệ hoặc phần mềm miễn phí, và làm đúng quy định pháp luật hiện hành.
Mượn đồ lâu không trả có tính là trộm cắp không?
Nếu quên thật thì chưa phải là ý muốn lấy. Nhưng khi đã biết mà vẫn cố giữ, coi như của mình, thì đã mang tính chất lấy của không cho. Cách đơn giản là trả lại sớm hoặc hỏi rõ chủ có muốn cho hẳn không.
Cho con chơi đồ của bạn rồi mang về nhà thì sao?
Trẻ nhỏ chưa hiểu rõ chuyện sở hữu, nên đây là dịp dạy con nhẹ nhàng: đồ của bạn thì trả bạn, muốn mượn thì hỏi. Không nên dùng chữ "trộm" hay doạ con bằng quả báo. Làm gương là cách dạy hiệu quả nhất.
Mặc cả khi mua hàng có trái với giới không?
Mặc cả là thoả thuận giá giữa hai bên tự nguyện, không phải lấy của không cho. Điều cần tránh là ép giá người yếu thế, lợi dụng lúc người bán túng quẫn, hoặc nói sai về hàng để được giá thấp hơn.
Trốn vé xe, vé tham quan có phạm giới thứ hai không?
Theo cách hiểu phổ biến, dịch vụ đã dùng mà không trả tiền là lấy thứ không được trao, nên nằm trong phạm vi giới này. Việc nhỏ hay lớn khác nhau ở mức độ, nhưng tinh thần của giới là không để người khác chịu thiệt vì mình.