Trong giáo lý nhà Phật, tâm từ là mong cho chúng sinh được an vui, và theo nhiều bản giảng, chính mình cũng là một chúng sinh cần được đối xử bằng tâm từ: không hành hạ mình, không khinh rẻ mình, mong mình được bình an để từ đó mở lòng ra với người khác. Thương mình theo nghĩa này khác hẳn ích kỷ, vì nó dẫn tới chỗ hiểu rằng ai cũng thương thân như mình, nên không nỡ làm hại ai.
Nhiều người lớn lên với ý nghĩ rằng tu là phải hy sinh, phải quên mình, và thấy ngượng khi nói tới chuyện thương bản thân. Ở chiều ngược lại, văn hoá mạng xã hội lại dùng chữ "yêu bản thân" cho mọi thứ, kể cả chi tiêu vô độ. Phần dưới đặt tâm từ với chính mình vào khung giáo lý, ở mức nhập môn. Đây không phải bài tập thiền hay liệu pháp tâm lý; muốn thực hành tâm từ có hướng dẫn, bạn nên hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt.
Vì sao nhiều bản giảng bắt đầu tâm từ từ chính mình
Bộ luận Thanh Tịnh Đạo của truyền thống Nam truyền, khi trình bày cách tu tâm từ, có đặt bản thân làm điểm khởi đầu. Lý do được giải thích đại ý như sau: ai cũng mong mình được hạnh phúc, nên lấy chính mình làm mẫu thì dễ hiểu tâm từ là gì; từ cảm nhận ấy mới mở dần ra tới người thân, người dưng, rồi tới người mình không ưa. Bản thân ở đây là chỗ để hiểu, không phải chỗ để dừng lại.
Cách sắp xếp này có một ý rất thực tế. Một người đang tự ghét mình, tự chê bai không dứt, thường khó mà thật lòng mong người khác được an vui; lòng tốt dành cho người khác dễ biến thành gượng ép hoặc thành cách để được người ta công nhận. Ngược lại, người đã bình an với chính mình thường có nhiều chỗ trống hơn để quan tâm tới người khác.
Các truyền thống Bắc truyền ít dùng cách trình bày theo từng bước này hơn, nhưng tinh thần tương tự vẫn có mặt: lòng từ bi rộng lớn của Bồ Tát không loại trừ ai, và chính mình cũng là một trong vô số chúng sinh. Không có truyền thống nào dạy rằng muốn thương người thì phải ghét bỏ bản thân.
Câu chuyện vua Ba-tư-nặc và hoàng hậu Mạt-lỵ
Kinh Tương Ưng Bộ có một bài kinh ngắn thường được dẫn khi giảng về tâm từ với chính mình. Theo kinh kể, vua Ba-tư-nặc nước Kiều-tát-la hỏi hoàng hậu Mạt-lỵ rằng có ai đối với bà thân thiết hơn chính bản thân bà không. Hoàng hậu thành thật trả lời là không, và hỏi lại nhà vua; nhà vua cũng thừa nhận như vậy. Sau đó vua tới kể lại với Đức Phật.
Đại ý lời Đức Phật nói về chuyện ấy là: tìm khắp mọi phương cũng không thấy ai thân thiết với mình hơn chính mình; người khác cũng vậy, ai cũng thương thân mình nhất; vì thế người thương mình thì không nên làm hại người khác. Đây là diễn ý, không phải nguyên văn; muốn đọc đúng câu chữ, bạn nên tìm bản dịch Tương Ưng Bộ có chú giải.
Điều thú vị của câu chuyện là nó không chê trách việc thương mình. Câu trả lời thật thà của hoàng hậu được dùng làm điểm khởi đầu cho một bài học đạo đức: chính vì biết mình thương mình như thế nào, mình mới hiểu người khác cũng thương thân họ như thế, và từ đó không nỡ làm điều gây khổ cho họ. Thương mình, theo cách nhìn ấy, là gốc của sự không làm hại, chứ không phải đối nghịch với lòng tốt.
Thương mình, ích kỷ và tự trách khác nhau thế nào
Ba trạng thái dưới đây dễ lẫn vào nhau. Bảng so sánh theo cách giảng phổ thông, kèm ví dụ giả định.
| Tâm từ với chính mình | Ích kỷ | Tự trách, tự khinh | |
|---|---|---|---|
| Nhìn bản thân | Một người có lúc đúng lúc sai, xứng đáng được bình an | Trung tâm của mọi thứ, nhu cầu mình là trên hết | Kẻ hỏng, không xứng đáng |
| Nhìn người khác | Họ cũng thương thân như mình | Công cụ hoặc chướng ngại | Ai cũng hơn mình |
| Khi mắc lỗi | Nhận lỗi, sửa, rút kinh nghiệm | Đổ lỗi cho người khác | Day dứt, hành hạ mình, không dám làm gì tiếp |
| Ví dụ giả định | Mệt quá thì xin nghỉ một buổi, báo trước để đồng nghiệp sắp xếp | Nghỉ ngang không báo, mặc người khác gánh việc | Cố làm tới ngất rồi tự mắng mình yếu đuối |
| Hướng đi | Mở rộng ra người khác | Thu hẹp lại quanh mình | Thu hẹp lại trong mặc cảm |
Nhìn bảng sẽ thấy tâm từ với chính mình đứng ở giữa hai cực. Nó không coi mình là trung tâm, cũng không chà đạp mình. Đó là sự đối xử tử tế, công bằng, giống như cách mình đối xử với một người bạn đang gặp khó.
Những dạng thiếu tâm từ với chính mình hay gặp
Nói với mình bằng giọng mà không bao giờ dùng với bạn bè. Nhiều người sẵn sàng an ủi bạn khi bạn trượt phỏng vấn, nhưng lại tự gọi mình là "đồ vô dụng" khi chính mình trượt. Sự chênh lệch ấy là một dấu hiệu dễ nhận ra.
Cầu toàn tới mức không cho mình sai. Đặt tiêu chuẩn cao cho công việc là tốt, nhưng khi mỗi lỗi nhỏ thành một vết thương lớn, sự cầu toàn đã thành một kiểu hành hạ. Giáo lý về vô thường nhắc rằng không có gì hoàn hảo mãi.
Coi nhu cầu của mình là không đáng. Không dám nghỉ khi ốm, không dám từ chối khi quá tải, luôn đặt mình cuối danh sách. Thoạt nhìn giống vị tha, nhưng lâu ngày thường dẫn tới kiệt sức và oán giận ngầm.
So sánh không ngừng. Liên tục đo mình bằng thành tích của người khác. Thói quen này vừa thiếu tâm từ với mình, vừa thiếu tâm hỷ với người, vì nó biến thành công của người khác thành nỗi khổ của mình.
Hối lỗi mãi không thôi. Nhận ra lỗi là cần thiết. Nhưng khi nỗi hối hận quay vòng nhiều năm mà không dẫn tới sửa đổi, nó không còn giúp ai, kể cả người mình đã làm tổn thương.
Tâm từ với chính mình không phải là tự bào chữa
Có một nỗi lo hợp lý: nếu cứ thương mình thì có thành dễ dãi, đổ hết lỗi cho hoàn cảnh không. Theo cách giảng phổ thông, tâm từ với chính mình đi cùng với trách nhiệm. Người thương mình đúng cách không muốn mình tiếp tục làm điều sai, giống như cha mẹ thương con thì dạy con sửa lỗi chứ không bao che.
Giáo lý về nghiệp nhấn vào hành động có tác ý và hệ quả của nó. Nhận lỗi, xin lỗi người bị ảnh hưởng, sửa những gì sửa được và quyết tâm không lặp lại là cách đối xử có trách nhiệm với chính mình. Điều tâm từ loại bỏ chỉ là phần hành hạ thừa thãi: tự mắng mỏ, tự trừng phạt không dẫn tới đâu.
Nhiều bài giảng còn nhắc rằng người không tha thứ được cho mình thường cũng khó tha thứ cho người khác. Sự khắt khe hướng vào trong và hướng ra ngoài hay đi cùng nhau. Vì thế tập đối xử công bằng với lỗi của mình cũng là tập độ lượng với lỗi của người.
Ví dụ giả định: một người lỡ nói nặng với mẹ trong lúc mệt. Tự bào chữa là nói "tại mẹ cằn nhằn". Tự hành hạ là mất ngủ cả tuần vì thấy mình bất hiếu. Tâm từ với chính mình là nhận rằng mình đã sai, gọi điện xin lỗi mẹ, rồi để ý xem vì sao mình mệt tới mức ấy và sắp xếp lại. Cách thứ ba vừa tốt cho mình, vừa tốt cho mẹ.
Vài cách nhìn giúp đối xử tử tế với mình
Không phải bài tập, chỉ là những gợi ý về cách nhìn mà nhiều người học giáo lý chia sẻ:
- Thử nói với mình như nói với một người bạn thân đang gặp đúng chuyện ấy.
- Nhớ rằng thân này cũng cần được chăm sóc: ăn uống, ngủ nghỉ, khám bệnh khi cần là một phần của sự tử tế với mình, không phải là xa xỉ.
- Ghi nhận những việc tốt nhỏ mình đã làm trong ngày, không chỉ đếm những việc chưa làm được.
- Đặt ranh giới rõ ràng với những đòi hỏi vượt sức; từ chối một cách nhẹ nhàng cũng là thương mình và thương người, vì nhận rồi làm dở còn tệ hơn.
- Khi thấy mình đang so sánh, thử chuyển sang mừng cho người kia, rồi quay về với việc của mình.
- Nhớ rằng mình, như mọi người, đang thay đổi; một lỗi hôm nay không định nghĩa con người mình mãi mãi.
Muốn thực hành tâm từ một cách có hệ thống, ví dụ theo các bài kinh về tâm từ, bạn nên học với chư tăng, ni hoặc trong một khoá tu có người hướng dẫn, để biết cách làm hợp với mình.
Khi nào cần nhiều hơn giáo lý
Giáo lý giúp thay đổi cách nhìn, nhưng có những vết thương không tự lành bằng cách nhìn. Nếu cảm giác ghét bỏ bản thân kéo dài, đi kèm mất ngủ, chán ăn, mất hứng thú với mọi thứ, hoặc có lúc nghĩ tới việc làm hại bản thân, đó là lúc cần gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý, hoặc gọi một đường dây hỗ trợ tâm lý. Đây không phải dấu hiệu của sự yếu đuối hay thiếu đức tin.
Nhiều chư tăng, ni hiện nay khuyến khích Phật tử đi khám khi cần và dùng thuốc đúng chỉ định của bác sĩ. Chăm sóc sức khoẻ tinh thần là một cách cụ thể để thực hành tâm từ với chính mình. Giáo lý và y học có thể bổ sung cho nhau: một bên chữa phần bệnh, một bên giúp sống với tâm rộng mở hơn khi đã khoẻ lại.
Nếu bạn đang ở bên một người thân hay tự trách, tự hạ thấp mình, sự lắng nghe không phán xét của bạn đã là một món quà. Và nếu thấy dấu hiệu nguy hiểm, hãy giúp họ tìm tới sự trợ giúp chuyên môn sớm.
Câu hỏi thường gặp
Thương bản thân có trái với tinh thần vô ngã không?
Theo cách giảng phổ thông, không. Vô ngã nói về việc không có một cái ngã cố định, bất biến, không phải bảo người ta hành hạ thân tâm. Đối xử tử tế với thân tâm đang có, không bám chấp vào nó, là cách nhiều bản giảng dung hoà hai ý này.
Tâm từ với chính mình có phải là ích kỷ không?
Không. Ích kỷ đặt nhu cầu của mình lên trên và coi người khác là công cụ. Tâm từ với chính mình là đối xử tử tế, công bằng với bản thân, và theo kinh, chính từ đó mới hiểu rằng người khác cũng thương thân như mình nên không làm hại họ.
Câu chuyện vua Ba-tư-nặc nằm trong kinh nào?
Câu chuyện vua Ba-tư-nặc hỏi hoàng hậu Mạt-lỵ có ai thân thiết hơn chính mình được kể trong một bài kinh ngắn thuộc Tương Ưng Bộ. Khi dẫn, nên ghi là đại ý và tìm bản dịch có chú giải để biết đúng câu chữ.
Nghỉ ngơi khi mệt có phải là lười biếng không?
Không nhất thiết. Nghỉ ngơi để hồi sức là chăm sóc thân tâm, giúp làm việc lâu dài. Lười biếng theo giáo lý là buông bỏ việc thiện cần làm. Ranh giới nằm ở chỗ nghỉ để tiếp tục hay nghỉ để trốn tránh.
Hay tự trách bản thân có nên chỉ tụng kinh, tu tập để sửa không?
Tu tập có thể giúp thay đổi cách nhìn, nhưng nếu tự trách kéo dài kèm mất ngủ, buồn chán, ý nghĩ làm hại bản thân, bạn nên gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý. Giáo lý không thay được chăm sóc sức khoẻ tinh thần.
Thực hành tâm từ có cần thầy hướng dẫn không?
Hiểu ý nghĩa tâm từ thì có thể tự đọc. Còn thực hành có hệ thống, ví dụ theo các bài kinh về tâm từ hoặc trong thiền tập, bạn nên học với chư tăng, ni hoặc trong khoá tu có người hướng dẫn để tránh hiểu lệch.