Theo cách phân loại phổ biến trong Phật giáo, bố thí có ba loại: tài thí là cho của cải, sức lực; pháp thí là chia sẻ hiểu biết giúp người sống tốt hơn; vô uý thí là đem lại cho người khác sự an toàn, không sợ hãi. Như vậy bố thí rộng hơn rất nhiều so với hình ảnh bỏ tiền vào hòm công đức, và người không dư dả vẫn có nhiều cách để cho đi.
Bố thí đứng đầu trong lục độ, cũng đứng đầu trong ba việc tạo phước mà kinh tạng Pali hay nhắc là bố thí, giữ giới và tu tập. Vì đứng đầu, nó cũng dễ bị hiểu lệch nhất: cho để được giàu, cho vượt sức rồi khổ cả nhà, cho mà mong được nhớ ơn. Phần dưới giải nghĩa ba loại bố thí và tâm thế khi cho theo lời kinh, ở mức nhập môn. Muốn hỏi cụ thể về hoàn cảnh của mình, bạn nên trao đổi với chư tăng, ni.
Bố thí là gì trong giáo lý nhà Phật
Chữ Pali và Phạn dāna nghĩa là sự cho, sự trao tặng. Trong giáo lý, bố thí không chỉ là một việc làm từ thiện mà là một cách tập buông lỏng sự bám giữ. Người ta cho đi một phần những gì mình có, và trong lúc đó tập nới tay khỏi cảm giác "cái này là của mình, phải giữ". Vì thế bố thí thường được giảng là liều thuốc cho tham, độc đầu tiên trong ba độc.
Điểm đáng chú ý là bố thí được đặt ở vị trí "dễ bắt đầu". Không phải ai cũng ngồi thiền được, không phải ai cũng hiểu ngay giáo lý sâu xa, nhưng hầu như ai cũng có thể chia một bữa ăn, một lời hướng dẫn, một chút thời gian. Các bài giảng cho người mới vì thế thường mở đầu bằng bố thí.
Bố thí trong đạo Phật cũng không giới hạn đối tượng nhận. Cúng dường Tam bảo là một dạng, giúp người nghèo, người bệnh là một dạng, cho thức ăn tới con vật đói cũng là một dạng. Kinh điển có những bài phân tích công đức khác nhau tuỳ đối tượng và tâm người cho; đó là phần giáo lý sâu, nên hỏi người đã học kỹ. Ở mức nhập môn, điều cần nắm là: cho với tâm thành và cho đúng chỗ cần.
Ba loại bố thí trong một bảng
Bảng dưới tóm ba loại bố thí theo cách phân chia phổ biến trong các sách giáo lý tiếng Việt. Ví dụ là ví dụ giả định để dễ hình dung.
| Loại | Cho cái gì | Ví dụ giả định | Cần gì để làm được |
|---|---|---|---|
| Tài thí | Tiền bạc, đồ ăn, quần áo, thuốc men; cả thời gian và sức lực | Góp gạo cho bếp ăn bệnh viện; dành buổi sáng chủ nhật dọn vệ sinh khu xóm | Một chút dư ra, hoặc chỉ cần thời gian và đôi tay |
| Pháp thí | Hiểu biết giúp người sống tử tế, sáng suốt hơn: giáo lý, kinh nghiệm, kỹ năng | Chỉ cho người mới cách đọc kinh có chú giải; dạy nghề cho một bạn trẻ | Hiểu biết đúng và tấm lòng không cầu danh |
| Vô uý thí | Sự an toàn, không sợ hãi: che chở, an ủi, không làm hại ai | Đứng ra bảo vệ đứa trẻ bị bắt nạt; giữ giới không làm hại để người quanh mình yên tâm | Lòng can đảm, sự tỉnh táo và giữ an toàn cho mình |
Nhìn bảng sẽ thấy ba loại bố thí không xếp theo giàu nghèo. Người có tiền có thể làm tài thí, nhưng một người không có đồng nào dư vẫn làm được pháp thí và vô uý thí. Đó là lý do các bài giảng nói ai cũng có thể bố thí.
Tài thí: không chỉ là tiền
Tài thí là loại dễ thấy nhất. Nhiều bản giảng chia thêm thành ngoại tài, tức những thứ bên ngoài như tiền, đồ dùng, và nội tài, tức những gì thuộc về chính mình như sức lực, thời gian, kỹ năng. Người công nhân dành buổi nghỉ trưa sửa xe giúp bạn, người sinh viên đi hiến máu, người về hưu nấu cơm cho hàng xóm ốm đều đang làm tài thí theo nghĩa rộng.
Trong tài thí, các bài giảng nhấn vào hai điều. Thứ nhất là cho đúng chỗ cần: một bao gạo tới tay gia đình đang thiếu ăn có ý nghĩa hơn nhiều so với một món quà trang trí. Thứ hai là cho trong khả năng: kinh điển nhắc người tại gia có bổn phận với cha mẹ, vợ con, người làm công; cho đi mà để gia đình thiếu thốn không phải là điều kinh khuyến khích. Đây là chỗ rất cần tỉnh táo, nhất là khi có người thuyết phục mình cho thật nhiều.
Nhiều Phật tử Việt Nam quen với tài thí qua cúng dường chùa, góp quỹ từ thiện, phát cơm cho người nghèo. Đó đều là những việc tốt. Điều nên nhớ là giá trị của việc cho không đo bằng số tiền, và không có "mức tối thiểu" nào để một người được coi là đã bố thí. Một nắm rau từ vườn nhà trao với lòng thành cũng là bố thí.
Pháp thí và vô uý thí: hai loại cho không cần tiền
Pháp thí là chia sẻ hiểu biết giúp người khác bớt khổ, sống tốt hơn. Theo nghĩa hẹp, đó là giảng giải giáo lý; theo nghĩa rộng mà nhiều bài giảng dùng, mọi hiểu biết chân chính giúp ích cho người đều có thể là pháp thí: chỉ cho người lạc đường, dạy một nghề, chia sẻ kinh nghiệm chăm con. Kinh Pháp Cú có một câu thường được dẫn, đại ý rằng trong các sự bố thí, pháp thí là cao quý nhất.
Pháp thí đòi hỏi sự cẩn trọng. Chia sẻ giáo lý thì cần hiểu cho đúng, không tự chế lời Phật, không lấy những câu trôi nổi trên mạng gán cho kinh điển. Pháp thí cũng không phải là ép người khác tin theo mình; tôn trọng niềm tin của người nghe là một phần của tấm lòng cho đi. Không chắc thì nói "mình chưa rõ, nên hỏi thầy".
Vô uý thí là đem lại sự không sợ hãi. Người che chở cho kẻ yếu, người an ủi một ai đó đang hoảng loạn, người giúp đứa trẻ thấy an toàn đều đang làm vô uý thí. Tăng Chi Bộ có một bài kinh, đại ý gọi năm giới là những món quà lớn: người giữ giới không giết hại, không trộm cắp, không lừa dối thì đem lại sự yên ổn cho vô số người quanh mình. Cách nhìn ấy cho thấy giữ giới cũng là một hình thức cho đi.
Vô uý thí cũng cần tỉnh táo về an toàn. Bảo vệ người khác không có nghĩa là lao vào nguy hiểm khi không đủ sức; báo cho người có trách nhiệm, gọi 113 khi có bạo lực, đưa người gặp nạn tới nơi an toàn cũng là vô uý thí.
Bố thí và làm từ thiện khác nhau ở đâu
Nhìn bề ngoài, bố thí và làm từ thiện giống nhau: đều là đem thứ mình có giúp người khác. Chỗ khác nằm ở phía bên trong. Từ thiện theo nghĩa xã hội đo bằng kết quả cho người nhận: bao nhiêu suất cơm, bao nhiêu căn nhà. Bố thí theo giáo lý nhà Phật quan tâm thêm tới tâm người cho: lúc cho có bớt bám giữ không, có kèm ý muốn được khen không, có tôn trọng người nhận không.
Hai cách nhìn này bổ sung cho nhau, không đối nghịch. Một chương trình từ thiện làm tốt cần minh bạch, đúng người, đúng nhu cầu; một người bố thí tốt cũng cần như thế. Nhưng giáo lý thêm một tầng: việc cho là cơ hội để chính người cho chuyển hoá. Vì vậy cùng một việc góp quỹ, có người làm như một nghĩa vụ xã giao, có người làm như một bài tập buông tay, và với người thứ hai đó là bố thí theo đúng nghĩa.
Cách hiểu này cũng giúp tránh hai cực. Một cực là chỉ lo tâm mình thanh tịnh mà không quan tâm món cho có thật sự giúp được ai. Cực kia là chỉ đo số tiền, coi ai góp nhiều là người tốt hơn. Bố thí đúng nghĩa, theo các bài giảng, cần cả tâm sáng lẫn việc làm thiết thực.
Tâm thế khi cho: điều kinh nhấn mạnh hơn món quà
Cho với lòng tôn trọng. Tăng Chi Bộ có bài kinh nói về cách bố thí của bậc chân nhân, đại ý gồm: cho với lòng tin, cho một cách kính trọng, cho đúng lúc, cho với tâm muốn giúp thật, và cho mà không làm tổn hại mình hay người. Ném tiền cho người xin với vẻ khinh khi, theo tinh thần ấy, làm mất đi phần quý nhất của việc cho.
Cho mà không mong đền đáp. Cho để được trả ơn, được nêu tên, được khen là còn bám vào việc mình đã cho. Các bài giảng thường dùng hình ảnh "cho rồi thì quên", không ghi sổ ân nghĩa trong đầu.
Ba phía đều trong sạch. Kinh Kim Cang có ý nói về bố thí không trụ vào tướng; các luận Đại thừa diễn ý này thành "tam luân không tịch": không bám vào hình ảnh người cho, người nhận và món cho. Đây là tầng giáo lý sâu, nhưng ý nhập môn rất gần: cho mà không thấy mình là ân nhân, không thấy người nhận thấp hơn mình.
Vui trước, trong và sau khi cho. Nhiều bài giảng phổ thông nhắc rằng một việc cho trọn vẹn là khi người cho thấy vui lúc định cho, vui lúc đang cho và không hối tiếc sau khi cho. Nếu cho xong mà cứ day dứt tiếc nuối, có lẽ mình đã cho vượt sức.
Cho đi vừa sức và tỉnh táo
Tinh thần bố thí rất đẹp, nhưng cũng là chỗ dễ bị lợi dụng. Vài nguyên tắc để giữ việc cho đi lành mạnh:
- Chăm lo bổn phận với gia đình trước. Cho đi mà để cha mẹ già, con nhỏ thiếu thốn không phải là điều các bài giảng khuyến khích.
- Không cho vượt quá khả năng, không vay mượn để cúng dường hay quyên góp.
- Không gắn bố thí với lời hứa "cho càng nhiều càng được giàu", "cúng để giải hạn". Các bài giảng nhập môn không trình bày bố thí như một vụ đầu tư.
- Quyên góp qua những nơi minh bạch, rõ người nhận; thận trọng với lời kêu gọi gấp gáp, khó kiểm chứng trên mạng.
- Đừng quên hai loại bố thí không tốn tiền: một lời hướng dẫn tử tế, một sự che chở đúng lúc.
- Nếu thấy ai đó dùng chữ "bố thí", "công đức" để gây áp lực bắt bạn chi tiền, bạn có quyền từ chối.
Bố thí, theo tinh thần giáo lý, là để tâm rộng ra, không phải để túi rỗng đi trong lo âu. Nếu bạn phân vân nên cho bao nhiêu, cho ai, cho thế nào cho đúng hoàn cảnh của mình, hãy hỏi chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt; các vị thường khuyên rất thực tế.
Câu hỏi thường gặp
Ba loại bố thí gồm những gì?
Theo cách phân loại phổ biến, ba loại bố thí là tài thí, tức cho của cải, sức lực, thời gian; pháp thí, tức chia sẻ hiểu biết giúp người sống tốt hơn; và vô uý thí, tức đem lại sự an toàn, không sợ hãi cho người khác.
Không có tiền thì có bố thí được không?
Được. Tài thí còn gồm thời gian và sức lực, còn pháp thí và vô uý thí không cần tiền. Một lời chỉ đường, một buổi chăm người ốm, một sự che chở đúng lúc đều là bố thí. Giá trị của việc cho không đo bằng số tiền.
Vì sao pháp thí được coi là cao quý nhất?
Kinh Pháp Cú có câu đại ý rằng trong các sự bố thí, pháp thí là cao quý nhất. Cách giảng phổ biến là hiểu biết đúng giúp người ta tự thoát khổ lâu dài, còn của cải chỉ giúp được một lúc. Nhưng điều đó không làm tài thí kém giá trị.
Cúng dường chùa có phải là bố thí không?
Cúng dường Tam bảo là một dạng tài thí. Tuy vậy bố thí rộng hơn cúng dường nhiều, và không ai được khuyên cúng vượt sức mình. Nếu phân vân nên cúng thế nào cho hợp hoàn cảnh, bạn có thể hỏi thẳng chư tăng, ni nơi mình sinh hoạt.
Bố thí nhiều có giúp làm ăn khá lên không?
Các bài giảng nhập môn không trình bày bố thí như cách cầu tài lộc. Bố thí là để tập buông bỏ sự bám giữ và giúp người. Gắn việc cho đi với lời hứa giàu sang là cách hiểu lệch, dễ dẫn tới cho vượt sức hoặc bị người khác lợi dụng.
Tam luân không tịch là gì?
Đây là cách diễn ý trong các luận Đại thừa về bố thí không bám tướng, có gốc từ tinh thần kinh Kim Cang: không chấp vào hình ảnh người cho, người nhận và món cho. Ở mức nhập môn, có thể hiểu là cho mà không thấy mình là ân nhân.